Có chế tài để ngăn chặn tình trạng nợ đọng BHXH tại doanh nghiệp giải thể, phá sản

Thứ năm - 29/11/2018 11:21 12 0

Có chế tài để ngăn chặn tình trạng nợ đọng BHXH  tại doanh nghiệp giải thể, phá sản

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và BHXH Việt Nam đang phối hợp xây dựng Dự thảo Nghị định Quy định về quản lý thu nợ BHXH, BHYT, BHTN và bảo đảm quyền lợi của người lao động với mục đích ngăn chặn, hạn chế nợ đọng BHXH tại doanh nghiệp giải thể, phá sản.
70
(Ảnh minh họa)
          Với sự nỗ lực của BHXH Việt Nam và các bên có liên quan, tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH có nhiều chuyển biến tích cực; tuy nhiên, tính đến tháng 10/2018, tổng số tiền nợ BHXH phải tính lãi (từ 01 tháng trở lên) của BHXH các tỉnh, thành phố là 6.529 tỷ đồng, bằng 3,2% so với kế hoạch giao thu năm 2018. Trong đó, một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ nợ cao là Quảng Bình 10,5%, Hải Phòng 7,2%, Đắc Nông 6,9%, Hà Nội 6,2%, Bình Định 6%, Cà Mau 6%... Đáng chú ý, tổng số nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN của gần 60.000 lao động tại các doanh nghiệp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, đang chờ phá sản, doanh nghiệp có chủ là người nước ngoài bỏ trốn… là hơn 1.000 tỷ đồng.
          Luật BHXH (sửa đổi, 2014) có nhiều quy định mới theo hướng tăng thêm quyền lợi cho người lao động; đồng thời, bổ sung nhiều quy định nhằm đảm bảo tăng tính tuân thủ pháp luật về BHXH, giảm tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật BHXH còn gặp khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết quyền lợi về BHXH đối với người lao động trong doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc doanh nghiệp có chủ bỏ trốn mà còn nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN. Hiện đã có quy định cho phép các doanh nghiệp đang hoạt động nợ tiền đóng BHXH giải quyết quyền lợi cho người lao động đủ điều kiện nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển đơn vị khác; quy định về ưu tiên giải quyết các khoản nợ tiền BHXH, BHYT, BHTN khi doanh nghiệp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động nhưng đối với trường hợp chủ bỏ trốn hoặc các doanh nghiệp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động mà sau khi thanh lý tài sản không còn đủ tiền trả nợ BHXH thì chưa có quy định giải quyết quyền lợi đối với lao động.
          Vì vậy, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và BHXH Việt Nam phối hợp xây dựng Dự thảo Nghị định Quy định quản lý thu nợ BHXH, BHYT, BHTN nhằm giải quyết quyền lợi về bảo hiểm của người lao động trong các doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc doanh nghiệp có chủ bỏ trốn. Dự thảo Nghị định gồm 04 chương, 16 điều; trong đó, có quy định về nguồn kinh phí xử lý nợ và bảo đảm quyền lợi về BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động. Đối với đơn vị đã giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật thì nguồn kinh phí bảo đảm khoản tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN được lấy từ số tiền lãi mà người sử dụng lao động phải nộp do vi phạm quy định về trốn đóng, chậm đóng BHXH theo quy định tại Khoản 3, Điều 122 của Luật BHXH.
          Phân loại nợ và tính lãi số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN
          Ngoài ra, theo Dự thảo Nghị định, nợ BHXH, BHYT, BHTN được phân loại bao gồm nợ chậm đóng (trường hợp đơn vị có thời gian nợ dưới 01 tháng); nợ đọng (trường hợp đơn vị có thời gian nợ từ 01 tháng đến dưới 03 tháng); nợ kéo dài là các trường hợp đơn vị có thời gian nợ từ 03 tháng trở lên và không bao gồm các trường hợp đơn vị tại Khoản 4 và nợ khó thu. Trong đó, nợ khó thu gồm các trường hợp như đơn vị mất tích; đơn vị đang trong thời gian làm thủ tục giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động; đơn vị không hoạt động, không có người quản lý, điều hành; đơn vị có chủ sở hữu là người nước ngoài bỏ trốn khỏi Việt Nam; đơn vị đã giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; đơn vị nợ đang trong thời gian được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, đơn vị được cấp có thẩm quyền cho khoanh nợ.
          Đồng thời, về tính lãi số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN, được thực hiện như sau:
          Trường hợp chậm đóng BHYT  từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 09 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng. Trường hợp lãi suất liên ngân hàng năm trước liền kề không có kỳ hạn 09 tháng thì áp dụng mức lãi suất của kỳ hạn liền trước kỳ hạn 09 tháng;
          Trường hợp chậm đóng BHXH bắt buộc, BHTN từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư Quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng;
          Trường hợp truy thu đối với các trường hợp điều chỉnh tăng tiền lương tháng đã đóng BHXH, BHTN cho người lao động, đóng bù thời gian chưa đóng bảo hiểm xã hội của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động nhưng sau 06 tháng, kể từ ngày có quyết định điều chỉnh tăng tiền lương hoặc chấm dứt hợp đồng lao động về nước mới thực hiện truy đóng thì số tiền lãi phải thu bằng lãi suất đầu tư Quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian truy thu;
          Trong thời hạn 15 ngày đầu của tháng 01 hằng năm, BHXH Việt Nam công bố trên Cổng Thông tin điện tử của BHXH Việt Nam về mức lãi suất bình quân để BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Bộ Công an thống nhất thực hiện.
          Vào ngày đầu hằng tháng, cơ quan BHXH xác định số tiền lãi chậm đóng phải thu trong tháng theo công thức: Ln = Ln-1 + (T1 - T2) x k
          Trong đó, n là thứ tự của tháng hiện tại trong năm; k là mức lãi suất phạt chậm đóng tính theo tháng (%/tháng) áp dụng trong năm theo quy định; Ln là tổng số tiền lãi chậm đóng phải thu trong tháng n; Ln-1 là số tiền lãi chậm đóng lũy kế đến cuối tháng trước liền kề tháng n; T1 là số tiền chậm đóng lũy kế đến cuối tháng trước liền kề tháng n; T2 là số tiền chậm đóng dưới 30 ngày phát sinh trong tháng trước liền kề tháng n (gồm số tiền đơn vị phải đóng trong tháng trước liền kề nhưng chưa nộp và số tiền phát hiện trốn đóng nhưng chưa nộp theo Khoản 3 Điều này).
          Trường hợp trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện bắt buộc tham gia, đóng không đủ số tiền phải đóng theo quy định, đóng thấp hơn mức đóng của người thuộc diện bắt buộc tham gia, chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN từ 30 ngày trở lên được cơ quan BHXH, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, thì ngoài việc truy thu số tiền trốn đóng, còn phải truy thu số tiền lãi tính trên số tiền trốn đóng, thời gian trốn đóng và mức lãi suất chậm đóng áp dụng tại thời điểm phát hiện trốn đóng theo công thức tính:
          Số tiền lãi phải truy thu = Số tiền trốn đóng (tháng) x Thời gian trốn đóng (tháng) x Lãi suất chậm đóng áp dụng tại thời điểm phát hiện trốn đóng (%/tháng)
          Trường hợp đến ngày cuối của tháng phát hiện trốn đóng, đơn vị chưa nộp hoặc nộp không đủ số tiền trốn đóng và tiền lãi, thì số tiền trốn đóng được chuyển sang tháng tiếp theo để thu và tiếp tục tính lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều này; số tiền lãi chưa nộp được chuyển sang tháng tiếp theo để thu./.

Nguồn tin: Tạp chí BHXH

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây